Giám sát tài chính là việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra, đánh giá các vấn đề về tài chính, chấp hành chính sách pháp luật tài chính của doanh nghiệp.
Ngày 25 tháng 6 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu bao gồm các công ty TNHH một thành viên, công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con do Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập; công ty TNHH một thành viên do Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh thành lập; Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Doanh nghiệp có vốn nhà nước gồm các công ty cổ phần, công ty TNHH từ hai thành viên trở lên do các Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh là chủ sở hữu vốn đầu tư.
Giám sát tài chính là việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra, đánh giá các vấn đề về tài chính, chấp hành chính sách pháp luật tài chính của doanh nghiệp. Việc giám sát tài chính do Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh, cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp thực hiện. Việc giám sát được thực hiện theo các phương thức giám sát trực tiếp, gián tiếp, giám sát trước, giám sát trong và giám sát sau. Việc kiểm tra, thanh tra được thực hiện theo định kỳ hoặc đột xuất và phải tuân thủ quy định về thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp.
Nội dung giám sát tài chính bao gồm:
1. Giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp;
2. Giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp;
3. Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (sản xuất, tiêu thụ, tồn kho sản phẩm, doanh thu, dịch vụ, thu nhập, kết quả hoạt động kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA, việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước…);
4. Giám sát việc thực hiện các chính sách đối với người lao động.
Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xổ số, chứng khoán thực hiện các quy định về giám sát tài chính tại Quy chế này và các quy định liên quan. Trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác với Quy chế này thì áp dụng theo pháp luật chuyên ngành.
Căn cứ kết quả giám sát tài chính, chủ sở hữu đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp theo các mức độ: đảm bảo an toàn, có dấu hiệu mất an toàn. Trong trường hợp có dấu hiệu mất an toàn, chủ sở hữu thực hiện chế độ giám sát đặc biệt, đồng thời có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời các vấn đề liên quan.
Doanh nghiệp có nghĩa vụ lập và gửi kịp thời các báo cáo phục vụ việc giám sát tài chính, xây dựng các biện pháp ngăn chặn khi có cảnh báo của chủ sở hữu, thực hiện các chỉ đạo, khuyến nghị của chủ sở hữu, của cơ quan quản lý nhà nước trong các báo cáo giám sát. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tự tổ chức giám sát tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Căn cứ kết quả giám sát tài chính, quy chế quản lý tài chính, doanh nghiệp và chủ sở hữu thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động (xếp loại doanh nghiệp) theo 5 chỉ tiêu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 của Nghị định này. Hàng năm, doanh nghiệp tự đánh giá và xếp loại, gửi báo cáo đánh giá xếp loại cho chủ sở hữu/ Bộ Tài chính/ UBND cấp tỉnh. Báo cáo xếp loại của năm trước phải gửi trước ngày 30 tháng 4 của năm tiếp theo. Kết quả xếp loại doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến việc xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức quản lý doanh nghiệp.
Bộ quản lý ngành/UBND cấp tỉnh tiến hành thẩm định và công bố kết quả xếp loại doanh nghiệp. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện thẩm định, công bố kết quả xếp loại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Kết quả xếp loại doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến việc xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức quản lý doanh nghiệp.
Hàng năm, Bộ Tài chính tổng hợp kết quả xếp loại doanh nghiệp của các Bộ quản lý ngành và UBND cấp tỉnh của năm trước để báo cáo Chính phủ trước ngày 31 tháng 7.
Chương III của Nghị định quy định về giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và doanh nghiệp nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ.
Về công khai tài chính
Doanh nghiệp phải công khai tình hình tài chính, hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các khoản đóng góp cho ngân sách nhà nước, tình hình quản trị công ty, tiền lương, thù lao, thu nhập bình quân hàng tháng v.v… Doanh nghiệp thực hiện việc công khai tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình quản trị doanh nghiệp theo định kỳ 6 tháng, hàng năm.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2013
Quang Vinh
Theo Bộ Kế hoạch Đầu tư Cục phát triển Doanh Nghiệp
